Kiến thức đầu tư

Phân tích cơ bản là gì? Tại sao bạn phải biết phân tích cơ bản khi đầu tư chứng khoán?

4.7/5 - (8 votes)

Đầu tư chứng khoán luôn là một canh bạc hấp dẫn với bất cứ ai tham gia vào thị trường, cho dù là những nhà đầu tư mới hay dày dặn kinh nghiệm trận mạc. Tuy nhiên sự khác biệt giữa một con cừu non và một con cáo già trên thị trường, đó là những con cừu thì chỉ thích đánh bạc, còn những con sói già luôn có phương pháp.

Và một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến nhất khi phân tích chứng khoán chính là Phân tích cơ bản. Nói không ngoa, để đầu tư thành công bạn phải nắm được phân tích cơ bản, nếu không bạn chỉ đang cố gắng đánh bạc thắng được nhà cái giống như chơi BlackJack.

Vậy phân tích cơ bản là gì? Gồm những yếu tố nào và làm sao để có thể áp dụng phân tích cơ bản vào thị trường chứng khoán một cách thực tế nhất?

Phân tích cơ bản là gì?

Theo Investopedia, Fundamental Analysis (FA) – Phân tích cơ bản được định nghĩa là Phương pháp đo lường Giá trị nội tại của một cổ phiếu thông qua việc diễn giải các yếu tố tài chính và kinh tế có liên quan. Phân tích cơ bản bao gồm việc nghiên cứu tất cả mọi thứ có thể tác động đến giá trị cổ phiếu, từ các yếu tố vĩ mô như trạng thái nền kinh tế quốc gia, ngành công nghiệp,… cho yếu tố vi mô như hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị của công ty.

Nguồn: Investopedia.

Nói ngắn gọn, phương pháp Phân tích cơ bản là một cách tiếp cận cổ phiếu thông qua việc đánh giá trực tiếp khả năng hoạt động của doanh nghiệp đó. Nó đối lập với phương pháp Phân tích Kỹ thuật – một phương pháp không quan tâm quá nhiều đến nội tại doanh nghiệp mà thay vào đó, dựa trên các dữ liệu định lượng của biểu đồ như giá, khối lượng… để tìm các điểm vào/thoát lệnh giao dịch.

Bạn sẽ thấy Phân tích cơ bản có đôi chút tương đồng với Trường phái Đầu tư giá trị mà chúng ta đã nhắc tới, nhưng đây không phải là hai khái niệm trùng lặp. Một vài nhánh của phân tích cơ bản có thể dùng trong cả trường phái Đầu tư theo tăng trưởng – phương pháp không cần bất cứ một Giá trị nội tại cố định nào.

Xem thêm: Đầu tư giá trị là gì và vì sao bạn nên đầu tư giá trị?

Các yếu tố quan trọng trong Phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản không phải là một phương pháp nhất quán theo trình tự, mà thay vào đó là một bộ các tiêu chí được phân chia thành các yếu tố định lượng hay định tính để có thể định giá các công ty theo khẩu vị rủi ro đầu tư.

Định lượng (Quantitative): Là các tiêu chí đánh giá có thể đong đếm được bằng số và lượng, như tăng trưởng doanh thu, thu nhập/vốn cổ phần, nợ/vốn chủ sở hữu…

Định tính (Qualitative): Là các tiêu chí đánh giá chất lượng dựa trên tính “tốt” hay “xấu” theo cảm quan. Ví dụ: Ban lãnh đạo, khả năng cạnh tranh, mô hình kinh doanh…

phan tich co ban dinh luong va dinh tinh

Định lượng

Các tiêu chí định lượng bao gồm tất cả các thông tin mà bạn có thể tổng hợp được từ Báo cáo tài chính Công ty.

Tăng trưởng doanh thu/lợi nhuận theo quý/năm (%).

Biên lợi nhuận (%): Là khoảng cách biệt giữa doanh thu và lợi nhuận sau thuế, thể hiện mức hiệu quả của chi phí vốn bỏ ra.

Thu nhập trên vốn cổ phần (Earning Per Share – EPS): Thước đo khả năng sinh lợi của công ty so trên 1 cổ phần phát hành.

Giá trên Thu nhập (Price/Earning Ratio – P/E): Cán cân giữa thị giá và khả năng sinh lợi của cổ phiếu công ty.

Giá trên Giá trị sổ sách (Price to Book – P/B): Cán cân giữa thị giá và Giá trị sổ sách trên 1 cổ phần.

Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE): Khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn góp của cổ đông.

Nợ trên Vốn chủ sở hữu: Thước đo sức khỏe tài chính dài hạn của doanh nghiệp.

Hệ số thanh toán hiện thời (Current Ratio): Mức an toàn của doanh nghiệp trước nợ vay hiện tại.

Và một số các tiêu chí khác có trong bảng Báo cáo tài chính như Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF), chi phí đầu tư vào tài sản cố định (CAPEX), hệ số vòng quay hàng tồn kho, vòng quay vốn lưu động v.v…

Định tính

Phân tích định tính xoay quanh việc đánh giá chủ quan về chất lượng của một tiêu chí nào đấy của doanh nghiệp đang bàn tới, hơn là đưa ra một con số cụ thể.

Mô hình kinh doanh: Một số ngành nghề có biên lợi nhuận lớn hơn hẳn các ngành khác do có chi phí vốn rẻ. Một số ngành nghề phụ thuộc vào thời vụ khiến họ không thể duy trì khả năng tăng trưởng trong một thời gian dài hơn.

Lợi thế cạnh tranh: Tất cả mọi thứ liên quan đến bằng sáng chế độc quyền, thương hiệu, lợi thế về giá vốn, phân khúc… giúp doanh nghiệp có lợi thế hơn hẳn các đối thủ cùng ngành.

Ban lãnh đạo: Bản thân con tàu không thể vượt qua sóng gió nếu không có người thuyền trưởng tốt. Ban lãnh đạo tốt là một trong những tiêu chí cực kỳ quan trọng của một doanh nghiệp thành công, nó liên quan tới yếu tố đạo đức kinh doanh cũng như năng lực điều hành của những người này.

Và một số những yếu tố tác động khác như tệp khách hàng, tranh đua thị phần. thời thế của ngành nghề, yếu tố chính sách quốc gia, chính trị… và triển vọng của chính doanh nghiệp đó.

Sử dụng phân tích cơ bản như thế nào?

Với một bộ các tiêu chí với những khẩu vị đánh giá vô cùng khác nhau giữa các cá nhân và tổ chức đầu tư, sẽ rất dễ bị “loạn chưởng” khi cố gắng áp dụng tất cả mọi thứ cùng một lúc với một tiêu chuẩn quá cao. Lý do? “Nhân vô thập toàn”: Chẳng có con người nào là hoàn hảo, cũng chẳng có doanh nghiệp nào trọn vẹn 100%.

Thay vào đó, hãy “nâng lên, đặt xuống” các chỉ số, tiêu chí và cân nhắc trong từng hoàn cảnh cùng những bức tranh tổng thể. Tốt nhất là tùy thuộc vào model định giá mà bạn sử dụng, sẽ có một số tiêu chí không quá cần thiết.

Tiêu chí đầu tư theo tăng trưởng

Đầu tư tăng trưởng là một trường phái đầu tư sử dụng phân tích cơ bản nhằm tìm ra những doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ, kỳ vọng đem về lợi nhuận trên vốn cao cho các nhà đầu tư. Những cổ phiếu thuộc trường phái tăng trưởng thường có sức mạnh giá thuộc hàng cao nhất thị trường, và thường được các nhà đầu tư trả giá rất hào phóng.

Các tiêu chí định lượng phân tích cơ bản thường dùng:

Earning Per Shares: Ở Việt Nam, EPS trên 5000đ có thể được xem vào hàng cổ phiếu tăng trưởng.

Tăng trưởng EPS 4 quý gần nhất: Mức tăng trưởng này trên 25% trong 4 quý liên tục sẽ được xem là cổ phiếu tăng trưởng.

Return on Equity: ROE trên 15%, thậm chí là 25% thì cổ phiếu sẽ dễ được trả giá cao hơn.

Ngoài ra có chỉ số RS (Relative Strength) đo lường sức mạnh giá so với các cổ phiếu khác trong thị trường chung >80.

Những tiêu chí định tính:

Sản phẩm mới, ban lãnh đạo mới, phương pháp kinh doanh đột phá.

Sự ủng hộ của các quỹ đầu tư, các tổ chức tài chính (thông qua tỷ lệ nắm giữ của các quỹ).

Xu hướng thị trường chung thuận lợi

Những tiêu chí như P/E, dòng tiền, sức khỏe tài chính, biên lợi nhuận… cùng nhiều chỉ số trong báo cáo tài chính khác là không cần thiết trong phong cách đầu tư này.

dau tu gia tri vs tang truong
Hai nhánh nổi tiếng của phương pháp phân tích cơ bản bao gồm Đầu tư theo Tăng trưởng (Growth Investing) và Đầu tư Giá trị (Value Investing)

Định giá bằng phương pháp Benjamin Graham

cong thuc benjamin graham

Một trong những phương pháp định giá nhanh khi bạn thực hiện đầu tư giá trị đó là công thức Benjamin Graham, giúp nhà đầu tư có một cái nhìn sơ bộ về giá trị của cổ phiếu trước khi tiến hành nghiên cứu sâu hơn nữa. Phương pháp này cũng sẽ cần đến một vài biến số định lượng:

EPS: Thu nhập trên vốn cổ phần của 4 quý gần nhất.

g: Tỷ lệ tăng trưởng ước tính trong tương lai.

Y: Lãi suất phi rủi ro ở thời điểm hiện tại (thường là trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm ở Việt Nam).

Để ước tính được tỷ lệ tăng trưởng g, bạn sẽ cần đến dữ liệu lợi nhuận qua các năm trong quá khứ, thường sẽ là từ 3-5 năm. Mức tăng trưởng này sẽ được giả định là sẽ vẫn tiếp diễn trong những năm tới, nếu không tính đến những sự kiện bất khả kháng khác.

Ước tính dòng tiền chiết khấu (DCF)

Dòng tiền chiết khấu là một phương pháp quy đổi tất cả dòng tiền được sinh ra từ một tài sản trong tương lai về giá trị hiện tại theo 1 tỷ lệ chiết khấu để tính toán giá trị hợp lý của tài sản đó. Phương pháp này dựa trên cơ sở dòng tiền được đầu tư ở thời điểm hiện tại sẽ luôn có giá trị hơn dòng tiền được đầu tư trong tương lai, do có chi phí cơ hội.

DCF phan tich co ban

Lấy ví dụ, bạn mua 1 căn nhà và dự kiến sẽ cho thuê hàng tháng để thu về 10 triệu 1 tháng. Như vậy 120 triệu mỗi năm trong tương lai sẽ được chiết khấu về giá trị hiện tại (lạm phát giả định là 4%), nếu bạn cho thuê trong 10 năm trước khi bán lại thì chúng ta sẽ cân nhắc ở mức giá 3 tỷ 120 triệu đồng. Đây là ví dụ sơ đẳng nhất về cách sử dụng DCF khi tính giá trị công ty.

Để ước tính dòng tiền tương lai của doanh nghiệp làm ra (FCF), các bạn cần tới biến số định lượng Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF), chi phí lãi vay (T) và Chi phí mua sắm Tài sản cố định (CAPEX) trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của BCTC Doanh nghiệp.

FCF = OCF + T – CAPEX

Dữ liệu của nhiều năm liên tiếp trong quá khứ giúp bạn có được những phỏng đoán có cơ sở hơn về khả năng làm ra dòng tiền tự do của công ty cho tương lai để đưa vào mô hình tính toán.

Công thức DCF nêu trên có sự xuất hiện của Chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC), được biết đến là % lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư khi đầu tư vào các tài sản có tính rủi ro nhất định. WACC cần đến những biến số định lượng như Nợ, Vốn chủ sở hữu, beta, rủi ro quốc gia… 

Định giá PEG của Peter Lynch

Trong khi chỉ số P/E dường như là một thước đo với rất nhiều sai số khi chỉ phản ánh những gì đã xảy ra trong quá khứ. Chỉ số PEG của Peter Lynch mang đến một lăng kính toàn diện hơn, khi có biến số tăng trưởng G. Điều này giúp bạn dự phóng P/E tương lai của doanh nghiệp sau khi đã cân nhắc những triển vọng hợp lý.

PEG phan tich co ban

Bao gồm biến số định lượng Giá/Thu nhập (P/E, hay Price/Earning Per Share) như đã đề cập ở trên, công thức này còn có thêm phần mẫu số G (Growth Rate) nhằm dự phóng P/E tương lai của doanh nghiệp. Công thức này sẽ cho ra 3 trường hợp:

PEG < 1: Giá thị trường đang cao hơn Giá trị thực.

PEG = 1: Giá thị trường đang phản ánh đúng Giá trị thực.

PEG > 1: Cổ phiếu (có vẻ) đang bị định giá thấp hơn Giá trị thực.

Tiêu chí chọn cổ phiếu theo phương pháp 4M

Phương pháp chọn cổ phiếu theo điểm 4M được nhắc đến trong cuốn sách “Payback Time” (Ngày đòi nợ) của Phil Town, đề cập đến 4 tiêu chí lựa chọn những cổ phiếu giá trị dựa trên 4 chữ cái M ở đầu như sau:

MEANING – Dễ hiểu: Đây là một tiêu chí định tính, ám chỉ việc đầu tư vào những doanh nghiệp có ngành nghề đơn giản, hoặc bạn có trình độ chuyên môn và đam mê trong lĩnh vực đó.

MOAT – Con hào kinh tế: Ám chỉ việc sở hữu lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp (xem ở trên),

MANAGEMENT – Quản trị: Đầu tư vào những công ty có ban lãnh đạo tốt (xem ở trên).

MARGIN OF SAFETY – Biên an toàn: Tiêu chí định lượng cực kỳ quan trọng trong đầu tư giá trị, là khoảng cách giữa giá thị trường và giá trị thực theo tỷ lệ %, khoảng MoS này càng lớn thì rủi ro đầu tư càng thấp, an toàn.

Tạm kết

Ngoài ra còn rất nhiều những cách áp dụng phân tích cơ bản để tạo nên một bộ các tiêu chí trong đầu tư khác nữa. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng không phải lúc nào phân tích cơ bản cũng sẽ chính xác 100% – không có bất cứ một chân lý nào đúng tuyệt đối trong đầu tư. 

Các chỉ số, tiêu chí định lượng hay định tính chỉ là cách mà con người đặt ra các tiêu chuẩn để tìm ra được khoản đầu tư tiềm năng nhất, nhưng điều đó là chưa đủ. Để đầu tư thành công, chúng ta còn cần phải đi đôi với thực tế: Nhà máy của công ty hoạt động như thế nào? Thái độ gặp trực tiếp của ban lãnh đạo ra sao? Dự án trên thực địa tiến độ tới đâu?…

Bạn không thể thành công khi chỉ ngồi trong phòng máy lạnh phân tích chỉ số. Do vậy đừng chỉ phụ thuộc quá nhiều vào Phân tích cơ bản, hãy dành thời gian để đi tìm hiểu về tài sản mà bạn đang đầu tư để có được quyết định đúng đắn nhất.

Chúc bạn thành công.

Similar Posts

Leave a Reply

Your email address will not be published.

error: Content is protected !!